Lịch Sử Trường

Giới thiệu Lịch sử Trường

       60 năm qua, đồng hành trong đội hình của nền giáo dục cách mạng ở tỉnh nhà, lần dở những tư liệu, gặp gỡ nhiều nhân chứng, ngẫm nghĩ những bước thăng trầm, phác thảo những chặng đường bi tráng, chúng ta thấy bồi hồi xúc động.

BỐN THỜI KỲ PHÁT TRIỂN

Thời kỳ thứ nhất 

          Năm 1949 là năm khởi thuỷ. Khi một số đồn thực dân Pháp ở Phú Hoà, Mỹ Đức rút, vùng tự do được mở rộng, đồng thời cũng hình thành thế giằng co quyết liệt ở vùng địch hậu, Ty giáo dục Liên khu 4 đã quyết định thành lập trường TH Hoàng Hoa Thám ở xã kháng chiến cùng tên, trước do thầy giáo lão thành Mai Xuân Lịnh sau là thầy Nguyễn Xuân Bàng làm hiệu trưởng. Gọi là trường nhưng không có khuôn viên, không có phòng học. Sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy, chủ yếu là sự sưu tầm biên soạn. Học sinh từ Vĩnh Linh ra, Quảng Ninh lên, từ vùng giữa Lệ Thuỷ đến không quản đường sá xa xôi, đò giang cách trở , chấp nhận khó khăn, thiếu thốn, lớp học trong nhà dân, ăn ở cùng nhân dân, miệt mài đèn sách để sau này trở thành những người có ích cho kháng chiến, cho cách mạng. 252 học sinh của trường đã trưởng thành, mà ước mơ của họ được ươm lên từ xóm nghèo Lộc Xá. Đến năm 1955, vai trò lịch sử của trường, kết thúc. Đất nước giải phóng, trường phân thân, làm nồng cốt cho các trường TH mới hình thành ở trung tâm Lệ Thuỷ, Quảng Ninh.

Thời kỳ thứ 2: 1979 – 1981 

          Tổ quốc thống nhất, ngành GD có thêm nhiệm vụ mới. Loại hình Vừa học – Vừa làm ở bậc trung học được thực nghiệm. Tỉnh Bình Trị Thiên hồi ấy, cùng lúc có 4 trường mới, trong đó có trường PTTH – VHVL Lệ Ninh ( địa bàn xưa của trường TH Hoàng Hoa Thám ) do thầy giáo Hoàng Tôn làm hiệu trưởng. Chương trình học không mới, nhưng chương trình Làm thì rất lạ. Trường được xem như một đơn vị sản xuất trong doanh nghiệp. Học sinh ăn bếp tập thể, ở nhà nội trú. Tuần 5 buổi lao động. Trồng cói ở Hoa Thuỷ. Cấy lúa ở đội 3. Chăm sóc cao su ở Phú Cường. Hết việc thì vào rừng lấy củi, lên đồi nhặt sắt vụn. Bàn tay thư sinh cầm bút, thành bàn tay sạn chai cầm cuốc, xẽ đồi hoang thành hồ nuôi cá. Địa điểm trường ở một miền đầy cỏ dại và sim mua. Sân trường gồ gề đá sỏi. Phòng học mái tranh vách đất, gió lạnh mùa đông, nóng bức mùa hè. Ở hoàn cảnh như vậy, thầy và trò chấp nhận thử thách, cố gắng vượt lên để có 1.852 em tốt nghiệp, mang kỷ niệm buồn vui của mái trường đến những miền xa.

Thời kỳ thứ 3: 1991 – 1999 

          Trong tiến trình phát triển, giáo dục có một thời điểm khủng hoảng: Học sinh bỏ học, thầy giáo bỏ nghề. Cũng như nhiều trường khác, Lệ Ninh chưa đủ sức tiếp nhận ngọn gió đổi mới. Từ quy mô 12 lớp, chỉ còn 5 lớp. Trường đứng trước nguy cơ giải thể. UBND tỉnh Quảng Bình đã sáng suốt thành lập trường PT cấp 2- 3 Lệ Ninh và bổ nhiệm thầy Võ Hữu Tiến làm hiệu trưởng. Nông trường đã đặt gánh nặng, xây dựng CSVC lên vai mình, chuyển trường về một địa điểm mới. Sức sống hồi sinh được nhân lên. Quy mô tăng nhanh chóng. Lệ Ninh là một trong những trường đầu tiên của tỉnh Quảng Bình dương cao ngọn cờ kỷ cương, chọn nó làm khâu đột phá để tập hợp đội ngũ, kiến tạo khuôn viên, nâng cao chất lượng. Từ đây Lệ Ninh liên tục là trường tiên tiến xuất sắc của tỉnh. Trong 9 năm, đã có 1.319 học sinh ra trường.

Thời kỳ thứ 4: Từ năm 1999 đến nay

          Trước sự phát triển mau lẹ của giáo dục, mô hình cấp 2-3, tự nó không thích ứng. Trường mới được tái lập, tiếp tục mạch nguồn của nữa thế kỷ trước, mang tên người sỹ phu yêu nước, chủ soái của phong trào nông dân khởi nghĩa Yên Thế. Trường mới và vị thế cũng mới, để đến hôm nay có 2.924 em từ trường học ra với trường đời. Kiên trì xây dựng môi trường giáo dục theo hướng xã hội hoá đã giúp trường có bước chuyển về chất. Năm năm qua kể từ lần kỷ niệm trước, trường tiếp tục ổn định và phát triển. Tỷ lệ bỏ học hang năm dưới 0,3%, học sinh xếp loại giỏi 2,3%, loại khá 28%. Thi vào đại học năm 2007 – 2008 đạt 42%. Thi học sinh giỏi kỳ I năm học 2008 – 2009 có 19 giải cá nhân, 3 giải đồng đội. 15 năm liên tục đạt danh hiệu tiên tiến và tiên tiến xuất sắc. Trường là đơn vị thứ 3 của tỉnh Quảng Bình được công nhận là trường đạt chuẩn quốc gia bậc THPT vào tháng 8 năm 2006. Trong phong trào thi đua của khối trực thuộc trường được xếp là một trong 8 trường tốp đầu. Ở một địa bàn miền núi, xa trung tâm, thành tích của Hoàng Hoa Thám được đồng nghiệp xem như là huyền thoại. 

          Bốn thời kỳ, bốn địa điểm, bốn loại hình, bốn lần đổi tên, nhưng đóng góp của nhà trường cho xã hội là nhất quán và ngày càng nhiều hơn lên.

BA ĐÓNG GÓP 

1.Học sinh của trường đã góp phần nâng cao mặt bằng dân trí ở một vùng quê.

          Miệt đất bán sơn địa Phú Thuỷ, Sơn Thuỷ, Hoa Thuỷ, thị trấn Lệ Ninh giàu tiềm năng, nhưng từ bao đời nay, ngủ im lìm trong nghèo nàn lạc hậu, giờ đã được con người đánh thức. Trong số 6.447 học sinh đã tốt nghiệp, có 1.353 học sinh ( gần 21 % ) do nhiều hoàn cảnh khác nhau, mà ra khỏi cổng trường là rẽ ngay vào cổng làng, gieo ước mơ vào đất, chung thuỷ với quê nhà. Bàn tay cần cù cùng với tri thức tiếp thu được trên ghế trường, đã được những nam thanh, nữ tú ấy đem về ứng dụng sau luỹ tre làng. Thôn Vinh Quang, muốn cấy cây lúa đứng, phải ngấm mình trong nước buốt, giờ đã thành cánh đồng gieo thẳng. Làng Xuân Hoà, mùa vàng lan tận chân đê Hạc Hải. Ninh Phước Thượng, đồng đất khô cằn, cây lúa vụ 10 khẳng khiu như sợi chỉ, nay mỗi năm có 2 vụ thu bội. Anh Nguyễn Văn Dần, người học sinh giỏi năm xưa, thành lão nông tri điền, danh tiếng toả rạng làng trên xóm dưới. Nguyễn Thế Thanh, Nguyễn Hữu Tiệp và nhiều em khác nữa, mỗi kỳ thu 10 – 13 tấn lúa, điều mà những địa chủ ngày trước mơ cũng có được. Nghề dịch vụ được mở rộng Nguyễn  Huệ, Ngọc Phương, Thu Hà….đang là những thương nhân, có doanh thu không kém thị thành. Hiện tượng Cao Thị Hảo, Nguyễn Tư Tâm trong tay có sở hữu hàng chục héc ta đất, không còn hiếm. Một thời khu dân cư, chỉ có bần nông, cố nông, nay đã có thêm thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Đó là những vị Giám đốc trẻ măng, những chiếc xe con của họ, làm xôn xao đường làng, ngõ xóm, làm bừng tỉnh một vùng quê yên tỉnh như biểu tượng của nông thôn thời kỳ mở cửa. Có thể nói một bộ phận học sinh thành đạt ngay trên quê nhà, góp phần làm cho vùng đất xưa giàu có dần lên, nên thơ dần lên

2. Trường đã đào luyện được nhiều thế hệ học sinh có tài, có tâm

          Số học sinh cũ của trường thoát ly quê hương là 5.094 người. Khi đất nước chưa bình yên, một lực lượng đã nhập ngũ. Bàn tay cầm bút thành bàn tay cầm súng dạn dày chiến trận. Nhiều người trong số họ thành sỹ quan cao cấp quân đội nhân dân Việt Nam như Nguyễn Kim Khuê, Nguyễn Mụng, Võ Văn Năng… một bộ phận tiếp tục học lên thành cử nhân, thạc sỹ, có 7 người học vị tiến sỹ như anh Nguyễn Thế Thôn, anh Lê Tùng Châu, chị Nguyễn Thị Ánh Tuyết, anh Võ Như Hồng, Hà Văn Hành…họ đã để lại nhiều công trình khoa học có giá trị, trong đó có công trình được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh. Dù cương vị công tác nào họ đều là những người mẫn cán. Nhiều người ở trong bộ máy công quyền từ cấp huyện đến TW như anh Nguyễn Duy Bản, anh Nguyễn Thế Hoàn, anh Trần Phương. Ở các chức danh liên quan đến quyền lực và tiền bạc nhưng trong khói lửa chiến tranh và trong sóng gió thị trường, không ai gục ngã. Không ít học sinh của trường tiếp tục thiên thức là nhà giáo: tiến sỹ Nguyễn Văn Hiền ở đại học Bách khoa, tiến sỹ Võ Đức Tôn ĐHQG Hà Nội, thầy giáo Hoàng Tôn, Dương Viết Khớ, gắn bó với bậc học phổ thông. Thầy giáo Võ Quang Thuyết, Nguyễn Thái Thuỷ, Nguyễn Thị Toan, Nguyễn Chiến Thắng… về nhận công tác tại trường cũ Thầy giáo Thái Hoàng, thầy giáo Bùi Đình Sơn được phong tặng nhà giáo ưu tú. Khi nhà nước khuyến khích làm giàu chính đáng, nhiều thế hệ doanh nhân ra đời. Em Nguyễn Thị Thanh Bình thủ khoa trường Y Huế. Em Hoàng Quang Tuân đạt học sinh giỏi quốc gia. Em Nguyễn Thị Lê Minh, huy chương tại HKPĐ toàn quốc…Rõ ràng nhờ tài năng và may mắn, lớp lớp học sinh Hoàng Hoa Thám đã thành danh. Dù ở phương nào của Tổ quốc, trong sâu thẳm trái tim của họ, Hoàng Hoa Thám là chiếc nôi giúp họ trưởng thành.

3.Xây dựng được những thế hệ giáo viên có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực sư phạm.

          Hội đồng sư phạm là môi trường đào luyện giáo viên. Đó là một tập thể gắn bó với trường, với nghề và trưởng thành lên sau mỗi giờ lên lớp, sau một năm công tác. Thầy Nguyễn Vân Duẩn, Châu Ngọc Ánh, Hà Văn Trung, Dương Hoài Phương, từ lò Hoàng Hoa Thám đã dể dàng tiến bộ và trưởng thành ở đơn vị mới. Nhiều giáo viên đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình cho mái trường nghèo như cô Trương Thị Duyên, Lê Thị Hoài Thu, thầy Võ Thanh Đạt, Trần Phu cùng với biết bao thầy cô khác. Hôm nay, trường có 59 CBGV,NV đang âm thầm công việc trồng người. Tất cả đều đã đạt chuẩn, trong số đó đã có 21 người là giáo viên giỏi cấp cơ sở. Và như vậy, trong suốt mấy chục năm qua đã có 183 CBGV đã từng chung thuỷ với bảng đen, phấn trắng, đồi khuya, xóm vắng, trường làng, giờ thì nhiều người đã nghỉ hưu, nhiều người đã điều chuyển. Dẫu đến nơi phồn hoa và yên vị công tác, họ vẫn khôn nguôi nhớ về trường xưa, lớp cũ, nơi sáng chiều Cẩm Ly, bếp củi Liên Cơ đêm lạnh, rau má Truông lái và sắn đắng Đồi Chè. Khó khăn trăm bề, thiếu thốn ngàn thứ, nhưng họ đã sống hết mình, cống hiến hết mình. Chính họ đã lặng lẽ phác thảo nên chân dung trường Hoàng Hoa Thám và lan toả như lan toả một thương hiệu giáo dục tận nhiều miền quê. 

          Những đóng góp trên, đối với nhiều trường có thể không lớn, nhưng đối với Hoàng Hoa Thám là vô giá. Nó sẽ trở thành những bài học truyền thống cho những thế hệ tiếp nối, kế thừa và phát huy.

BỐN BÀI HỌC TRUYỀN THỐNG 

Bài học truyền thống thứ nhất: Trung thành với Đảng

          Khi cuộc kháng chiến đang vào hồi quyết liệt, cả dân tộc đang dồn sức chiến trường trong một thế trận trường kỳ, Đảng vẫn có tầm nhìn xa trông rộng mở mặt trận giáo dục mà trường TH Hoàng Hoa Thám là một quyết định sáng suốt và kịp thời. Thầy và trò tập hợp thành lực lượng xung kích, đảm nhận thêm nhiều công việc. Đến từng làng dựng cổng chào, lên khẩu hiệu. Hình ảnh của câu khẩu hiệu lớn, kẻ bằng vôi, dài hàng chục mét dọc thân đường tàu, thời đó cắm vào mắt kẻ thù một thách thức. Những người học sinh, về tận Mai Thuỷ, Tân Ninh trong đội quân tính và thu thuế nông nghiệp cho Nhà nước. Kỷ niệm nhất là nhưng đêm văn nghệ dã chiến, hừng hực lửa trại, cho dù kẻ thù ở An Lạc chí cách một tầm sung. Nếu như trong kháng chiến người học sinh thành người chiến sỹ thì khi đất nước thanh bình người học sinh có lúc thành người công nhân thực thụ ở nông trường quốc doanh Lệ Ninh. Bàn tay học trò nhuốm bùn Hoa Thuỷ, nhuốm bụi Phú Cường, san đồi trồng cà phê, mở núi đắp hò nuôi cá. Yêu trường nghĩa là yêu Đảng, trong những năm tháng đầy khó khăn, không một giáo viên của trường bỏ nghề. Lịch sử giáo dục Quảng Bình không có trường nào như trường Hoàng Hoa Thám, bốn thời kỳ là bốn loại hình. Dù mới lạ và đầy thử thách trường cũng chấp nhận để từ thực tiễn của một trường nhỏ, giúp các cấp uỷ Đảng rút ra bài học lớn về hệ thống GDQD hoàn chỉnh và phù hợp như hiện nay. 

Bài học truyền thống thứ 2: Trưởng thành trong lòng dân

          Một thời cả một vùng rộng lớn từ phía nam Quảng Bình đến Vĩnh Linh mới có trường TH này. Ăn ở của thầy và trò đều dựa vào dân. Gia đình cụ Trần Quê, cụ Trương Giác, cụ Phạm Lựu và bao nhiêu gia đình khác nữa ở thôn nghèo Trung Tính, Lộc Xá, Hoàng Viễn đã cưu mang trường. Nhường nhà cho trò học, nhường giường cho trò ngủ, ơn chở che, đùm bọc đó, cứ làm vương nước mắt của bao thế hệ học trò. Nắm lá sắn non thay rau chat đắng từ Lộc Xá, từ Truông Lái vẫn ngọt đến tận bây giờ. Khi trường VH-VL  như trôi giữa đôi bờ cơ chế cũ và mới. Nguy cơ không tồn tại. Nông trường Lệ Ninh đã chuyển địa điểm và đầu tư 960 triệu đồng để xây trường mới. Có hay, nông trường còn nghèo, những người công nhân ở đội 2, Quyết Tiến, phải dậy âm thầm từ 4 giờ sáng trong rét rừng và muỗi núi để chắt chiu từng giọt mũ cao su, mới thấy tấm lòng của nông trường sâu tình nặng nghĩa biết nhường nào.

          Bây giờ trường hạnh phúc có một môi trường giáo dục lành mạnh. Sự nghiệp xã hội hoá giáo dục trên địa bàn đã thành nền tảng vững chắc, để từ đó, trường xây nên lâu đài truyền thống. Lực lượng nồng cốt là các bậc phụ huynh. Từ thôn Phú Hoà xa xôi đến làng Xuân Hoà cách trở, nhiều gia đình cơm chưa no, nhà chưa kín đã nhiệt tình đóng góp từng đồng bạc để Hội phụ huynh trong 5 năm trở lại đây đầu tư trên 1.200 triệu đồng, cùng Nhà nước  kiến tạo khuôn viên khang trang, tươi đẹp. 

          Một ngày không xa, sân trường sẽ có tượng đài để ghi tạc tấm lòng vàng của nhân dân Phú, Sơn, Hoa, thị trấn. Trong hơn nữa thế kỷ qua, nếu như trường có được thành tích thì công lao đó thuộc về nhân dân trên địa bàn.

Bài học truyền thống thứ 3: Dạy tốt, học tốt

          Đặc điểm riêng của trường là xa tỉnh lỵ, huyện lỵ, địa phương dẫu đã đổi thay song vẫn còn nghèo. Trong một tình cảnh như thế, tâm lý rất dể an phận thủ thường. Trường đã được khen về an ninh trật tự học đường, về kỷ cương, về xây dựng cảnh quan. Trường quyết tâm được khen về chất lượng dạy và học. Phấn đấu để không thua kém các điển hình tiên tiến. Muốn có trò giỏi phải có thầy giỏi. Giáo viên của trường được đào tạo chính quy và đạt chuẩn. Trường đã có một lực lượng giáo viên đầu đàn. Tỷ lệ giáo viên giỏi năm 2007- 2008 là 36 % nhiều đồng chí liên tục có học sinh giỏi cấp tỉnh: Đ/c Trường, đ/c Duyên, đ/c Thuỷ, đ/c Thu. Dù không hình thành lớp chọn, lớp đ/c Đạt 38/48, lớp đ/c Tậu có 31/52 em đỗ đại học. Trong 14 năm lại đây, tỷ lệ tốt nghiệp của trường vào loại cao của tỉnh . Nhiều học sinh đã có nghiã cử cao đẹp như Lê Công Nam quên mình cứu bạn được Nhà nước công nhận Liệt sỹ. Có học sinh đã nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh như Đại tá Nguyễn Kim Khuê. Có em thi đỗ thủ khoa hai trường đại học như Nguyễn Ánh Dương. Lý Thị Thu Hoài, Trần Đình Nhân hai kỳ thi học sinh giỏi tỉnh Quảng Bình, mỗi em đạt 4 giải cao, trở thành những bông hoa đẹp trong vườn hoa học tốt.

Bài học truyền thống thứ tư: Đoàn kết, nhân ái, kỷ cương 

          Có giai đoạn lương giáo viên không đủ sống, ăn ở phải nương tựa vào nhau qua những tháng ngày vất vã. Đ/c Đạt, đ/c Phu phải vào rừng lấy cây mây, lấy gỗ. Đ/c Duyên ra chợ bán từng hạt dâu rừng. Đ/c Ngọc, đ/c Trung…lặn lội đến từng cánh đồng xa, kiếm về hạt thóc. Nước mắt đắng cay thấm trang giáo án. Khổ nhưng no đói có nhau, mưa bão có nhau. Khu nội trú giáo viên đêm đêm đầy ắp tiếng cười, tiếng hát. Các tổ chức trong nhà trường đoàn kết dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng. Nhờ vậy mà sức mạnh của đôị ngũ được nhân lên gấp bội, giúp trường vượt lên chính mình thành một đơn vị tiên tiến xuất sắc liên tục nhiều năm qua. Cùng với đoàn kết, trường xây dựng một không khí nhân ái, cởi mở, chân tình. Hoạn nạn xẽ chia, niềm vui xẽ chia, mỗi ngày đến trường thêm một động lực mới. Nhân ái với đồng nghiệp, nhân ái với học sinh nhờ thế mà nhiều giáo viên được các em tín nhiệm rất cao như thầy Đạt, thầy Tậu…Hình ảnh người thầy vẫn da diết trong tim lớp lớp học trò, dù ở đâu và dù mái đầu tóc bạc. Nhân ái là đạo lý. Nhưng đạo lý không thay được pháp lý. Muốn có pháp lý, nhà trường đã đi đầu trong thi đua thiết lập kỷ cương trường học. Từ các văn bản có tính pháp quy, trường đã vận dụng để đề ra những quy chế nội bộ cụ thể, sát thực, ràng buộc các thành viên sống và làm việc theo chức trách của người viên chức. Trường đã thành khuôn phép để luyện thầy và rèn trò. Thầy giỏi, trò giỏi, thiên chức đó của nhà trường, trước hết nhờ xây dựng kỷ cương.

Năm 2009, đánh dấu móc son trong quá trình phát triển nhà trường. Nó khép lại 60 năm gian khó mà trưởng thành, đồng thời mở ra một chặng đường phấn đấu mới. Đó sẽ là chặng đường đầy cam go và thử thách. Bởi vì so lại mình, chúng ta thấy bên cạnh thành tích, trường còn tồn tại, phiếm khuyết. Học sinh chưa thật chăm học. Chất lượng giáo dục toàn diện còn hạn chế, trong đó chất lượng văn hoá chưa ổn định. Một số chuẩn của trường chuẩn quốc gia đang có nguy cơ giảm. Cùng với cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ” cuộc vận động “ Hai không; chủ đề năm học “ Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ” đang đề ra những yêu cầu cao hơn cho cả hai chủ thể. Truyền thống chỉ là hào quang khi ta biết tiếp tục phát sang nó. Do vậy đòi hỏi thầy và trò phải dạy thật sự và học thật sự để trường tiếp tục là đơn vị xuất sắc. Trang mới của biên niên sử nhà trường, nhất định sẽ được ghi them những chương tốt đẹp.

          Trong giờ phút trang trọng này, xin được nghiêng mình trước anh linh thầy Mai Xuân Lịnh, thầy Nguyễn Xuân Bàng, thầy Nguyễn Thế Hiệu cùng các thầy giáo và học sinh cũ của trường đã mất. Thời gian có phôi phai, nhưng chân dung của họ vẫn như ngọn nến lung linh trong tâm khảm của đồng nghiệp và đồng môn.

          Xin có lời chúc xúc động trước sự hiện diện của các thế hệ giáo viên và học sinh, gặp lại nhau tay bắt, mặt mừng, nước mắt chan trong nụ cười, lòng thổn thức thương về một thời thầy xưa, bạn cũ.

          Xin có lời cảm ơn nồng nhiệt đến Đảng bộ và chính quyền các cấp, đến Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Bình, đến Công ty cao su Lệ Ninh, đến các bậc phụ huynh và các trường bạn, trong thời gian qua đã lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ nhiều mặt để trường có một diện mạo như ngày hôm nay.

          60 năm, trường Hoàng Hoa Thám như một chiếc nôi, chiếc nôi đung đưa trong yêu của Đảng, trong lời ru của lòng dân, đã bồi dưỡng trí tuệ, nuôi dưỡng tâm hồn cho lớp lớp học sinh trưởng thành cùng đất nước

          Hảy xứng đáng với mái trường mang tên người sỹ phu yêu nước. Xốc lại hành trang, thầy và trò đồng sức, đồng lòng, đi lên phía trước.

60 năm, mới là chặng khởi đầu.

 

 

 

Tháng 01 năm 2009

Lượt truy cập: 620984 lần

Đang online: 7 người